Trang chủ » Bộ Công Thương họp báo thường kỳ tháng 7/2014

Bộ Công Thương họp báo thường kỳ tháng 7/2014

(Ngày đăng: 07-08-2014 07:54:16)
icon facebook   icon google plus  
Ngày 4/8/2014, tại trụ sở Bộ Công Thương, Thứ trưởng, Người phát ngôn Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải đã chủ trì cuộc họp báo thường kỳ tháng 7/2014.

CôngThương - Tại buổi họp báo, Bộ Công Thương đã cung cấp các thông tin về tình hình sản xuất công nghiệp và hoạt động thương mại, hội nhập kinh tế quốc tế trong tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2014.

Mở đầu buổi họp, Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải cho biết:

Chỉ số sản xuất công nghiệp: Tháng 7 năm 2014, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 0,2% so với tháng 6 năm 2014 và tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3%, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,3%, ngành sản xuất, phân phối điện tăng 11,6% và ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 8,7% so với cùng kỳ năm 2013.

Sản xuất công nghiệp 7 tháng năm 2014 tăng trưởng 6,2% (cao hơn mức tăng 5,8% của 6 tháng năm 2014 và mức tăng 5,4% của 7 tháng năm 2013 so với cùng kỳ), trong đó, nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng khá, cao hơn mức tăng của toàn ngành (tăng 8,1% so với mức tăng 6,2% của toàn ngành).

Tháng 6 năm 2014, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 0,2% so với tháng trước và tăng 8,9% so với tháng 6 năm 2013. Tính chung 6 tháng đầu năm 2014 chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,8% so với cùng kỳ, trong đó tăng chủ yếu ở nhóm hàng chế biến, bảo quản thủy sản và sản phẩm từ thủy sản (tăng 16,8%); sản xuất đường (tăng 23,1%); sản xuất vải dệt thoi (tăng 18,2%)... Những nhóm hàng có chỉ số tiêu thụ giảm so với cùng kỳ là sản xuất mì ống, mì sợi và sản phẩm tương tự (giảm 22,5%); sản xuất thuốc lá (giảm 9,9%)...

Tình hình tồn kho: Tại thời điểm 01 tháng 7 năm 2014, chỉ số tồn kho của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,1% so với thời điểm 01 tháng 6 năm 2014 (thấp hơn mức tăng 4,5% tại thời điểm 01 tháng 6 năm 2014 so với thời điểm 01 tháng 5 năm 2014) và tăng 13,2% so với cùng thời điểm năm trước.

Một số ngành chỉ số tồn kho cao là: sản xuất mì ống, mì sợi và sản phẩm tương tự (tăng 53,8%), sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản (tăng 77,0%), sản xuất đồ uống (tăng 19,4%)... (Nguyên nhân chủ yếu do tiêu thụ giảm).

Về tình hình nổi bật của một số ngành

Ngành Điện: Theo thống kê của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Bão số 2 đã gây thiệt hại trên 21 tỷ đồng cho Tổng công ty Điện lực Miền Bắc. Trước tình hình đó, ngành điện đã khẩn trương khắc phục các sự cố và đến hết ngày 25/7/ 2014, toàn bộ lưới điện các khu vực bị ảnh hưởng về cơ bản đã được khắc phục hoàn toàn, đảm bảo cung cấp điện cho nhân dân. Trong tháng 5 năm 2014, sau sự cố máy biến áp tại Trạm biến áp 500kV Hiệp Hòa gây gián đoạn cấp điện và chất lượng điện áp tại một số tỉnh phía Bắc, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã nhanh chóng có phương án khắc phục để ổn định cấp điện, đến ngày 07 tháng 7 năm 2014, máy biến áp AT2 đã được khắc phục và đưa trở lại vận hành trong hệ thống.

Điện sản xuất của cả nước tháng 7 năm 2014 ước đạt 12,34 tỷ kWh, tăng 11,4% so cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2014, điện sản xuất ước đạt 79,32 tỷ kWh, tăng 11,9% so cùng kỳ.

Ngành Than- Khoáng sản: Than sạch khai thác của toàn ngành tháng 7 ước đạt 2,8 triệu tấn tăng 8,7% so với cùng kỳ 2013, tính chung 7 tháng đầu năm, sản lượng than sạch ước đạt 23,045 triệu tấn, bằng 96,6% so với cùng kỳ.

Ngành Dầu khí: Sản lượng một số sản phẩm chính ngành dầu khí đều tăng trưởng khá so với cùng kỳ: dầu thô khai thác tháng 7 ước đạt 1,4 triệu tấn, bằng 99,7% so cùng kỳ, tính chung 7 tháng ước đạt 9,8 triệu tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ; sản lượng khí đốt thiên nhiên ước đạt 0,8 tỷ m3, tăng 13,9% so với cùng kỳ, tính chung 7 tháng đầu năm, sản lượng khí đốt đạt 6,2 tỷ m3, tăng 3,3% so với cùng kỳ; sản lượng khí hóa lỏng (LPG) tháng 7 ước đạt 51 nghìn tấn, bằng 81,6% so với cùng kỳ, tính chung 7 tháng, sản lượng khí hóa lỏng (LPG) ước đạt 365,5 nghìn tấn, bằng 89,3% so với cùng kỳ.

Ngành Thép: Lượng sắt thép thô ước đạt 311,3 nghìn tấn, tăng 21% so với cùng kỳ; lượng thép cán ước đạt 295,5 nghìn tấn, tăng 17,9% so với cùng kỳ; lượng thép thanh, thép góc ước đạt 285,2 nghìn tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2014, lượng sắt thép thô đạt 1.708,9 nghìn tấn, tăng 0,8% so với cùng kỳ; thép cán đạt 2.012,9 nghìn tấn, tăng 23,8% so với cùng kỳ; thép thanh, thép góc đạt 1.995,8 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ. Nhập khẩu thép các loại từ các thị trường trong tháng 7 tăng 23,7% về lượng và tăng 17,5% về trị giá. Tính chung 7 tháng năm 2014, nhập khẩu thép các loại tăng 5,8% về lượng, giảm 1,2% về trị giá; sản phẩm từ thép tăng 1,9% về trị giá.

Ngành Phân bón, hóa chất: 7 tháng năm 2014, ước sản lượng phân đạm urê đạt 1.239,6 nghìn tấn, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2013; phân NPK khoảng 1.451,2 nghìn tấn tăng 1,4% so cùng kỳ.

Ngành Dệt may: Với những nỗ lực của toàn ngành, dệt may đã vượt qua điện thoại để trở thành ngành đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, tháng 7 năm 2014 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc đạt 2,1 tỷ USD, tăng 11,1% so với tháng trước và tăng 17,4% so với cùng kỳ, (kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện tháng 7 đạt 1,6 tỷ USD). Tính chung 7 tháng đầu năm 2014, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt và may mặc ước đạt 11,48 tỷ USD, tăng 19,4% so với cùng kỳ năm trước.

Ngành Thuốc lá: Sản lượng thuốc lá bao các loại tháng 7 ước đạt 346,3 triệu bao, giảm 8,3% so với tháng 7 năm 2013; tính chung 7 tháng ước đạt 2,4 tỷ bao, giảm 12,6% so với cùng kỳ.

- Các ngành khác: Tháng 7 sản xuất tương đối ổn định. Tính chung 7 tháng năm 2014, nhìn chung sản xuất các ngành có mức tăng trưởng so với cùng kỳ, tuy nhiên một số ngành sản xuất giảm so với cùng kỳ (sữa bột giảm 1%; dầu gội đầu, dầu xả giảm 4,1%..)

Về xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 12,4 tỷ USD, tăng 0,2% so với tháng 6 và tăng 7,7% so với tháng 7 năm 2013. Tính chung 7 tháng năm 2014 KNXK ước đạt 83,5 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2013 (tương đương với tăng 10,3 tỷ USD).

Nhóm hàng nông lâm thủy sản 7 tháng năm 2014 xuất khẩu ước đạt 12,65 tỷ USD, chiếm 15,1% trong tổng KNXK; Nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản 7 tháng năm 2014 ước đạt gần 5,74 tỷ USD, chiếm 6,9% trong tổng KNXK; Nhóm hàng công nghiệp chế biến 7 tháng năm 2014 ước đạt 60,24 tỷ USD, chiếm 72,1% trong tổng KNXK.

Về nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá ước đạt 12,65 tỷ USD, tăng 1,8% so với tháng 6 và tăng 13,6% so với tháng 7 năm 2013, Tính chung 7 tháng năm 2014, KNNK ước đạt 82,25 tỷ USD, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2013.

Nhập khẩu hàng hoá 7 tháng năm 2014 của nhóm hàng cần nhập khẩu ước đạt 72,72 tỷ USD, tăng 11,0% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 88,4% KNNK, chủ yếu tập trung vào nhóm các mặt hàng là nguyên liệu cho sản xuất. Nhóm hàng cần kiểm soát nhập khẩu kim ngạch nhập khẩu ước đạt 3,44 tỷ USD, tăng 12,9% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 4,2% KNNK. Nhóm hàng cần hạn chế nhập khẩu ước đạt gần 3,47 tỷ USD, tăng 2,8% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 4,2% KNNK.

Về cán cân thương mại: Nhập siêu tháng 7 ước 250 triệu USD (bằng 2,0% kim ngạch xuất khẩu). Tính chung 7 tháng 2014, xuất siêu khoảng 1,26 tỷ USD (bằng 1,5% tổng kim ngạch xuất khẩu), trong đó, khối các doanh nghiệp trong nước nhập siêu 8,5 tỷ USD, khối các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu gần 9,8 tỷ USD.

Về công tác quản lý thị trường: Theo báo cáo nhanh, trong tháng 7, lực lượng Quản lý thị trường đã kiểm tra gần 15.000 vụ, xử lý trên 8.000 vụ vi phạm, tổng số tiền phạt nộp ngân sách trên 33 tỷ đồng. Ước thực hiện 7 tháng đầu năm 2014, lực lượng Quản lý thị trường kiểm tra trên 106.800 vụ, xử lý trên 56.500 vụ vi phạm, tổng số tiền phạt nộp ngân sách trên 234 tỷ đồng.

II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ BÁO CHÍ QUAN TÂM TẠI CUỘC HỌP BÁO

Trong khuôn khổ họp báo, Thứ trưởng, Người phát ngôn Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải và đại diện Tổng cục Năng lượng, các Cục, Vụ... đã trả lời một số câu hỏi của phóng viên báo chí.

Phóng viên Xuân Tiến – Đài Truyền hình KTS VTC1:

1. Nhiều khách hàng điện tại Hà Nội cho biết trong tháng 7/2014, hóa đơn tiền điện lại giảm nhiều so với tháng 6/2014. Đề nghị Bộ Công Thương cho biết nguyên nhân? Bộ có biện pháp gì để kiểm tra, giám sát, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng?

2. Trong buổi họp báo trước, Cục Điều tiết điện lực cho biết sẽ làm việc với EVN và EVN Hà Nội về việc hóa đơn tiền điện tăng đột biến và việc theo dõi ghi số điện của người dân. Xin cho biết kết quả như thế nào?

Ông Đinh Thế Phúc – Phó Cục trưởng Cục Điều tiết điện lực trả lời:

Có thể thấy ở đây là hóa đơn tiêu thụ điện của khách hàng phụ thuộc nhiều vào thời tiết. Nắng nóng cao sẽ dẫn đến sử dụng nhiều thiết bị làm mát và dẫn đến tăng sản lượng tiêu thụ điện. Quan trọng là chênh lệch nhiệt độ môi trường và nhiệt độ làm mát. Ví dụ: Nhiệt độ ngoài trời là 30 độ C trong khi nhiệt độ trong phòng làm mát là 25 độ C sẽ khác với ở ngoài là 35 độ C mà nhiệt độ trong phòng làm mát là 25 độ C. Mức chênh lệch cao đòi hỏi công suất làm mát phải lớn hơn. Như vậy, việc sử dụng điện ảnh hưởng rất nhiều từ thời tiết.

Tháng 6, sau khi có thông tin phản ánh giá điện cao, chúng tôi tiến hành kiểm tra tại Tổng công ty Điện lực Hà Nội. Sau đó, Bộ Công Thương có văn bản 6562 chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Điện lực Hà Nội nói riêng và các Tổng công ty điện khác thực hiện công khai thông báo lịch ghi công tơ; công khai cho khách hàng chỉ số công tơ ghi điện tiêu thụ trong tháng. Ngoài ra, cũng yêu cầu tuyên truyền cho nhân dân về nội dung thực hiện văn bản 6562.

Bộ Công Thương cũng đi kiểm tra lại ở Tổng công ty Điện lực Hà Nội về quá trình thực hiện chỉ đạo của Bộ Công Thương thì có thấy so với tháng 6, tháng 7 có giảm.

Tháng 7 có 183 nghìn khách hàng giảm 1,5 lần trở lên, và nếu tính 2 lần trở lên thì có 75 nghìn khách hàng. Tuy nhiên, trong tháng 6, khách hàng kêu hóa đơn tiền điện tăng cao thì bản thân trong tháng 6 có 79 nghìn khách hàng có hóa đơn tiền điện giảm hơn 1,5 lần so với tháng 5, nếu tính 2 lần thì có 42 nghìn khách hàng giảm. Còn tính số lượng tăng, trong tháng 6 rất nhiều, trong tháng 6 có 686 nghìn khách hàng tăng trên 1,5 lần, nếu tăng trên 2 lần là 340 nghìn khách hàng. Trong tháng 7, có 110 nghìn khách hàng tăng trên 1,5 lần. Như vậy, việc tăng giảm tháng nào cũng diễn ra, không phải riêng năm 2014 mà các năm nào cũng có.

Về nguyên nhân, trong tháng 7 thời tiết dễ chịu hơn, đặc biệt cuối tháng 7 nhiệt độ xuống thấp. Ngoài ra, tháng 7 hóa đơn tiền điện có 30 ngày. Ví dụ tại Tổng công ty Điện lực Hà Nội có 2 triệu khách hàng và việc ghi chỉ số hóa đơn  không thể ghi cùng lúc vào một ngày 30 hay 31. Theo quy định mà Tập đoàn Điện lực Việt Nam phân bổ cho các đơn vị lịch ghi chỉ số từ ngày 6 đến 25 hàng tháng. Như vậy, hóa đơn trong tháng 7, ví dụ ghi hóa đơn của 1 hộ là ngày 20 hàng tháng, thì cứ ngày 20 nhân viên sẽ đến ghi. Hóa đơn tháng 7 tính từ 21/6 – 20/7, như vậy là 30 ngày. Ngược lại, tháng 6 tính từ 21/5 – 20/6 tính là 31 ngày. Như vậy, thời gian thực hiện trong tháng 7 có ngắn hơn so với tháng 6. Đây có thể tính là một nguyên nhân, tuy nhiên, cái chính vẫn là việc sử dụng điện của khách hàng.

Liên quan đến vấn đề giám sát triển khai yêu cầu thực hiện của Tổng công ty Điện lực Hà Nội. Trong tháng 7, Tổng công ty Điện lực Hà Nội đã thực thi kiểm tra lại các hóa đơn. Đối với các hóa đơn có chênh lệch lớn như tăng gấp đôi hoặc giảm một nửa, đều cho người đi kiểm tra lại trước khi phát hành cho khách hàng. Tổng công ty cũng đã thực hiện nhắn tin cho khách hàng về chỉ số công tơ, tuy nhiên việc thực hiện này chưa được áp dụng 100% các khách hàng. Theo thông báo của Tổng công ty Điện lực Hà Nội, trong tháng 7, công ty đã nhắn tin trên 822 nghìn khách. Lý giải cho việc chưa áp dụng cho toàn bộ khách hàng, tổng công ty cho biết, có nhiều số điện thoại của khách hàng chưa được đăng ký để thông báo về lượng tiêu thụ điện hàng tháng. Qua đây, chúng tôi cũng nhờ cơ quan báo chí tuyên truyền đến người dân có nhu cầu để đăng ký số điện thoại cho tổng công ty để họ nhắn tin về sản lượng điện tiêu thụ.

Về công bố công khai niêm yết lịch ghi chỉ số công tơ, hiện nay có Tổng công ty Điện lực Hà Nội đã thực hiện tại 216/216 phòng giao dịch và công khai thông báo loa truyền thanh của phường, xã. Mặc dù việc thông báo trên loa truyền thanh này đôi khi khách hàng không nhận được bởi trùng giờ đi làm, tuy nhiên, đây cũng là một cách thực hiện của Tổng công ty nhằm công khai minh bạch tới khách hàng. Ngoài ra, chúng tôi cũng yêu cầu EVN tổ chức các cuộc kiểm tra ghi chỉ số công tơ và giải đáp thắc mắc của khách hàng để đảm bảo tính công khai minh bạch và chính xác.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải trả lời:

Điện là mặt hàng thiết yếu, nhạy cảm, có ảnh hưởng quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân.

Vì vậy, việc hóa đơn tiền điện tháng 6 tăng cao so với thời gian trước đó đã có ảnh hưởng ít nhiều đến sản xuất kinh doanh cũng như đời sống của người dân, gây nhiều ý kiến trong dư luận. Về việc này, Bộ Công Thương đã có chỉ đạo yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Tổng công ty Điện lực Hà Nội kiểm tra, xử lý các vi phạm. Theo báo cáo, TCT Điện lực Hà Nội đã cho nghỉ việc 2 công nhân vi phạm. Ngoài ra, cũng thực hiện hàng loạt biện pháp nhằm đảm bảo thông tin về việc tổng số điện tiêu thụ, tổng tiền phải trả... đến người tiêu dùng tốt hơn và người dân có thể tham gia vào việc kiểm soát. Bộ Công Thương cũng yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam tiếp tục kiểm tra, giám sát và cung cấp thông tin đến người dân trên phạm vi toàn quốc.

Việc tháng 7/2014 hóa đơn tiền điện giảm nhiều so với tháng 6/2014, tiếp theo ý kiến của anh Đinh Thế Phúc – Phó Cục trưởng Cục Điều tiết điện lực vừa trình bày, Tôi xin tóm tắt các nguyên nhân chủ yếu: Thứ nhất, việc tăng giảm sản lượng tiêu thụ điện có tính quy luật về thời tiết, mùa vụ (tháng 7/2013 có đến gần 140 nghìn khách hàng có sản lượng tiêu thụ điện giảm trên 1,5 lần so với tháng 6/2013, gần 56 nghìn khách hàng có sản lượng sử dụng điện giảm trên 2 lần so với tháng 6/2013. Thứ 2, thời tiết tháng 7/2014 dịu mát hơn (đặc biệt, từ ngày 14 đến 22 tháng 7 nhiệt độ thấp nhất còn 25 C, nhiệt độ cao nhất chỉ ở mức 30 oC. Tháng 7  số ngày sử dụng điện chỉ là 30 ngày (so với tháng 6 là 31 ngày)  Thứ 3, từ tháng 7/2014 áp dụng giá điện mới, về tổng thể mức bán lẻ bậc thang giảm so với mức giá quy định tại Thông tư 19/2013/TT-BCT (bậc 3 giảm 384 đồng, bậc 4 giảm 128 đồng, bậc 5 giảm 37 đồng, bậc 6 giảm 21 đồng). Vì vậy, các khách hàng sử dụng cùng sản lượng điện nhưng  tiền điện tháng 7 thấp hơn tiền điện tháng 6.

Phóng viên Xuân Quảng – Vietnamplus: Vừa qua xảy ra sự việc Công ty Tribeco tổ chức chương trình khuyến mại Mỳ UNif, có khách hàng trúng giải 100 triệu đồng nhưng không được lĩnh giải. Bộ Công Thương đã chỉ đạo xử lý việc này thế nào?

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải trả lời:

Theo quy định hiện hành, Doanh nghiệp tổ chức chương trình khuyến mại trên phạm vi từ 2 tỉnh/ thành phố trở lên hoặc trên phạm vi toàn quốc phải đăng ký và nộp chứng cứ để xác định trúng thưởng (mẫu trúng thưởng) ở Bộ Công Thương. Thực tế hiện nay, Bộ Công Thương đã ủy quyền cho Cục Xúc tiến thương mại trực tiếp thụ lý và xử lý. Về câu hỏi của phóng viên liên quan đến Công ty Tribeco, tổng giải thưởng của Chương trình khuyến mại doanh nghiệp thực hiện là hơn 2 tỷ đồng, trong đó có 3 giải nhất, mỗi giải 100 triệu đồng. Đã có 2 người trúng giải 100 triệu đồng. Bình thường theo quy định, nếu không có ai trúng giải nhất còn lại thì Doanh nghiệp sẽ phải nộp 50% giá trị giải thưởng bằng tiền mặt vào ngân sách nhà nước. Ngay sau khi biết thông tin về sự việc trên, Bộ Công Thương đã yêu cầu Doanh nghiệp này giải trình. Doanh nghiệp cho biết, như mẫu trúng thưởng đã đăng ký tại Bộ Công Thương (Cục Xúc tiến thương mại), thẻ trúng thưởng phải có một mặt dán 2 tem của Công ty, mặt đằng sau có chữ ký. Tuy nhiên, Thẻ mà người tiêu dùng mang đến yêu cầu được nhận thưởng lại không có 2 tem và cũng không có chữ ký. Do vậy, Doanh nghiệp không đồng ý trao giải, còn người tiêu dùng yêu cầu được lĩnh thưởng theo Thể lệ của Chương trình khuyến mại. Xét về pháp lý, Thẻ của người tiêu dùng không giống với mẫu trúng thưởng đã được đăng ký, vì vậy người tiêu dùng không được nhận Giải nhất. Nhưng việc người tiêu dùng nhận được Thẻ đó là lỗi của Doanh nghiệp, Doanh nghiệp phải có trách nhiệm thương lượng với người tiêu dùng để giải quyết dứt điểm. Ban đầu, Doanh nghiệp đồng ý hỗ trợ 5 triệu chi phí đi lại nhưng người tiêu dùng không đồng ý. Tuy nhiên, cuối cùng hai Bên đã thỏa thuận được với nhau, và người tiêu dùng đã nhận 50 triệu đồng từ Doanh nghiệp và không tiếp tục khiếu nại nữa (Ngoài ra, Doanh nghiệp vẫn phải nộp 50 triệu tiền mặt vào ngân sách nhà nước là 50% giá trị của Giải nhất thứ 3 không có người trúng thưởng).

Phóng viên Xuân Quảng – Vietnamplus: Thủ tướng Chính phủ đã quyết định bổ sung kinh phí cho chương trình Xúc tiến thương mại Quốc gia. Bộ Công Thương có những đổi mới gì trong công tác xúc tiến thương mại nhằm sử dụng hiệu quả kinh phí xúc tiến thương mại và giúp cho doanh nghiệp mở rộng thị trường, tháo gỡ khó khăn?

Ông Đỗ Kim Lang - Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại trả lời:

Năm 2014, Chính phủ cấp 70 tỷ đồng cho Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, thấp hơn so với 2013. Nguồn ngân sách cộng thêm nguồn kinh phí còn lại của 2 năm 2012, 2013 là 10 tỷ đồng, đưa tổng số ngân sách này lên đến 80 tỷ đồng. Đến tháng 7/2014, Bộ Công Thương đã phân bổ cho các đơn vị chủ trì thực hiện Chương trình Xúc tiến thương mại Quốc gia (giải ngân) hết 100% số tiền trên.

Trước nhu cầu kinh phí xúc tiến thương mại của doanh nghiệp, hiệp hội rất lớn, Bộ Công Thương đã đề nghị Chính phủ và Bộ Tài chính cấp thêm 30 tỷ đồng và Chính phủ đã đồng ý phê duyệt. Như vậy, năm 2014 tổng cộng có 110 tỷ đồng. Số tiền 30 tỷ đồng thêm tiếp tục xem xét đưa vào kế hoạch đã được Hội đồng thẩm định Bộ Công Thương duyệt trong năm 2014. Căn cứ vào định hướng chương trình xúc tiến thương mại hàng năm về thị trường xuất khẩu chủ lực vào một số thị trường truyền thống Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Nhật Bản; một số thị trường tiềm năng như Nga, Đông Âu và một số thị trường Châu Phi và một số nước láng giềng như Malaysia, Singapore… Đối với nhu cầu xúc tiến thương mại trong nước, chúng tôi dựa vào nhu cầu của địa phương bao gồm: Chương trình người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam; chương trình xúc tiến thương mại biên giới, hải đảo.

Về giải ngân, chúng tôi chuyển ngay ngân sách đến kho bạc nơi đơn vị đăng ký hoạt động tổ chức chương trình. Như vậy giảm thời gian và thủ tục và 2, 3 năm gần đầy việc sử dụng ngân sách đã hiệu quả hơn nhiều.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải trả lời:

Dù Chính phủ đã quan tâm, trú trọng đầu tư cho công tác XTTM, nhưng hiện nay Việt Nam vẫn nằm trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ có tỷ lệ thấp nhất về ngân sách nhà nước dành cho các hoạt động xúc tiến thương mại (bằng 1/30 tỷ lệ trung bình của các nước trên thế giới có điều kiện phát triển tương đồng với Việt Nam như: Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Ecuador...). Trong khi đó, Chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia trước kia chủ yếu chỉ có nội dung xúc tiến xuất khẩu nhưng hiện nay còn có thêm nội dung xúc tiến thương mại thị trường trong nước và XTTM phát triển miền núi, biên giới và hải đảo. Mặc dù vậy, Bộ Công Thương ý thức được, cần sử dụng nguồn ngân sách còn eo hẹp đó đúng quy định hiện hành, mang lại hiệu quả thiết thực cho các doanh nghiệp, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, phát triển thị trường nội địa, miền núi, biên giới và hải đảo...qua đó, góp phần phát triển kinh tế đất nước.

Hiện nay, Bộ Công Thương đang thực hiện việc tăng cường và đổi mới công tác xúc tiến thương mại theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Thời gian gần đây, chúng ta tập trung các hoạt động, nguồn lực vào một số thị trường lớn. Mỗi một chương trình, một sự kiện cũng được đầu tư, thực hiện liên tục năm này kế tiếp sang năm khác, tạo ra sự kế thừa và dấu ấn, hình ảnh của Việt Nam tại các thị trường, địa điểm tổ chức, ví dụ: chúng ta làm rất tốt Hội chợ thủy sản Việt Nam tại Brussel (Bỉ), với quy mô lớn; Tương tự là Hội chợ đồ gỗ tại Hoa Kỳ, hỗ trợ ngành gỗ rất tốt, mấy năm nay tăng trưởng rất nhanh; Hội chợ Trung Quốc – ASEAN (CAExpo)... cũng mang lại những kết quả khả quan, đã mở rộng quy mô đến 200 gian hàng mà mỗi năm chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu cầu đăng ký của các doanh nghiệp Việt Nam, chứng tỏ rất hiệu quả. Chúng ta cũng tăng cường tổ chức, mời các đoàn mua hàng đến thăm, giao dịch ở các Hội chợ được tổ chức ngay tại Việt Nam; tăng cường, hỗ trợ việc đăng cai tổ chức ở Việt Nam các Hội nghị quốc tế về ngành hàng, như Cà phê, Ca cao, Hạt điều, Thủy sản...  Vì tiếp cận với các bạn hàng lớn rất khó khi chúng ta ra nước ngoài, tuy nhiên, chỉ những Hội nghị Quốc tế như vậy họ mới tham dự, là những cơ hội rất tốt cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam tìm kiếm bạn hàng...

Phóng viên Thanh Hoàn – Báo An ninh Thủ đô: Trách nhiệm của Bộ Công Thương trong việc xảy ra sự cố thủ điện Ia Krel 2. Bộ có biện pháp gì kiểm tra an toàn về các hồ đập thủy điện, nhất là sau khi xảy ra sự cố này?

Phóng viên Vũ Hân – Báo Công an Nhân dân: Về sự cố vỡ đập thủy điện Ia Krel 2, được biết cơ quan chức năng đã phát hiện chủ đầu tư tích nước từ tháng 5 vừa qua (khi chưa được cho phép) trong khi tháng 6, UBND tỉnh mới cho phép sửa chữa khắc phục sự cố từ 2013. Vậy xin cho biết chủ đầu tư vi phạm những gì? Ngoài mưa nhiều, có phải do chủ đầu tư cố tình vi phạm dẫn đến lại vỡ đập hay không?

Phóng viên Mai Hương – Báo Nông thôn Ngày nay: Bộ Công Thương vừa đi khảo sát an toàn hồ đập mùa mưa bão. Đánh giá của Bộ Công Thương như thế nào?

Phóng viên Vũ Phương – Báo Người đưa tin: Việc Hồ Thủy điện vỡ, gây lũ, xả lũ gây thiệt hại cho người dân ở Hạ Du. Vậy Bộ đã có phương án như thế nào để đảm bảo quyền lợi của người dân sống gần các hồ thủy điện? Miền Trung gần vào mùa bão lũ, nhưng hiện vẫn chưa có thông tin chính thức về quy trình xả lũ được thông báo cho người dân, Bộ định khi nào mới công bố cho người dân về quy trình. Tại sao người dân vùng hạ du không được tập huấn để chạy thoát lũ khi hồ thủy điện xả lũ?

Ông Lê Tuấn Phong – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng trả lời:

Theo chương trình của Bộ Công Thương, ngày 06/8, Bộ trưởng Bộ Công Thương sẽ chủ trì hội nghị đánh giá giữa kỳ về việc tăng cường khảo sát quy hoạch quản lý những công trình thủy điện với 38 tỉnh có hồ thủy điện và các Bộ, ngành liên quan. Tất cả những câu hỏi liên quan đến an toàn hồ thủy điện, Bộ Công Thương sẽ giải đáp.

Thứ trưởng Đỗ Thắng Hải trả lời:

Dự án thủy điện Ia Krel 2, công suất 5,5 MW, được Công ty CP Công nghiệp và Thủy điện Bảo Long Gia Lai làm chủ đầu tư, khởi công xây dựng từ năm 2009 do Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Gia Lai cấp phép đầu tư. Về nguyên tắc, sau khi xây dựng công trình xong, Bộ Công Thương mới kiểm tra, thẩm định và cấp phép hoạt động điện lực cho công trình đó nếu đáp ứng được các quy định hiện hành. Năm 2013, trong quá trình xây dựng công trình này cũng đã xảy ra tình trạng bị vỡ nên UBND tỉnh Gia Lai đồng ý cho phép chủ đầu tư xây đê quai (đê quây) để ngăn nước không vào đập nhằm sửa chữa đập. Ngày 01/8 vừa qua, công trình đê quai đã bị vỡ (không phải vỡ đập).

Về phía Bộ Công Thương, quan điểm của Chúng tôi là tất cả những vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của ngành Công Thương, chúng tôi đều có trách nhiệm (dù là trực tiếp hay gián tiếp, dù mức độ liên quan khác nhau...). Với tinh thần như vậy, ngay khi xảy ra tình trạng vỡ đê quai, Bộ Công Thương đã chỉ đạo các đơn vị chức năng của Bộ phối hợp chặt chẽ với các cơ quan địa phương để xử lý, khắc phục sự cố; Sáng ngày 02 tháng 8 năm 2014, Bộ Công Thương đã có công văn gửi UBND tỉnh Gia Lai để phối hợp chỉ đạo triển khai các biện pháp xử lý, khắc phục sự cố; Trong ngày 02, 03 tháng 8 năm 2014, Đoàn công tác của Bộ Công Thương do Thứ trưởng Lê Dương Quang làm Trưởng đoàn cùng với các đơn vị chức năng vào làm việc với chủ đầu tư, tỉnh Gia Lai và trực tiếp đến hiện trường để tiến hành kiểm tra công trình để khắc phục sự cố, hỗ trợ kịp thời đối với người dân bị ảnh hưởng và chiều nay, ngày 04 tháng 8, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng cũng trực tiếp vào kiểm tra tại công trình thủy điện này.

Dù sự cố xảy ra không có thiệt hại về người, tuy nhiên, chúng ta cũng phải chia sẻ những tổn thất, mất mát về vật chất với bà con, người dân. Chúng tôi khẳng định Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương liên quan, trong đó có Bộ Công Thương, tất nhiên trước hết là Chủ đầu tư,  sẽ có trách nhiệm trong vấn đề n&a